Lễ hội Nghinh Cô (còn gọi là lễ rước Bà Thủy) diễn ra tại Dinh Cô bên chân núi Thùy Vân thuộc thị trấn Long Hải, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là lễ hội nước lớn nhất của cư dân ven biển Nam Bộ hằng năm. Theo tập tục lâu đời ở địa phương, người ta không gọi lễ Dinh Cô (nơi thờ cúng) mà gọi lễ Nghinh Cô (căn cứ vào nghi thức tiến hành lễ), bởi lẽ ngoài việc cúng bái tại dinh thờ, còn lễ Nghinh (hay rước) bằng tàu thuyền long trọng và sôi động diễn ra trên mặt biển tương tự như lễ Nghinh Ông (rước cá Ông) của cư dân ven biển Nam Bộ. Đặc điểm: Lễ hội nước đông nhất, thu hút khách thập phương trên một diện rộng gồm nhiều tỉnh, thành.
cuộc khảo sát sau này cho biết thêm “Cô” tên là Lê Thị Hồng Thủy, con ông Lê Văn Khương và bà Thạch Thị Hà, quê ở Bình Thuận, theo cha vào buôn bán ở vùng Bà Rịa, Gò Công; một hôm thuyền đi ngang qua mũi Thùy Vân, cô bị dây kéo buồm gạt rơi xuống biển. Mặc dù những người cùng đi trên thuyền ra sức tìm kiếm, nhưng vẫn không tìm được cô. Ba ngày sau, xác cô nổi lên nơi vũng Mù U, được bà con ngư dân xã Phước Hải chôn cất tử tế. Về sau cô trở nên linh hiển, nhập vào xác đồng, kể lại cái chết oan uổng của mình.
Dân làng lập miếu thờ, lấy ngày cô chết (12-2) để cúng bái hằng năm. Chuyện xảy ra vào năm Gia Long thứ ba (1804), lúc ấy cô mới 16 tuổi. Như vậy, tuy có một vài tình tiết khác nhau, nhưng nội dung câu chuyện là một: có tên tuổi, chết oan, địa điểm thống nhất, các di tích mồ mả còn lưu giữ được đến ngày nay. Nhưng gốc gác lịch sử của cô không phải là điều người ta quan tâm nhiều. Nguyên nhân dẫn đến sự tôn sùng, cúng bái và ngày vía cô trở thành một lễ hội lớn (có năm, số người dự lễ lên đến hai, ba chục vạn người), theo truyền thuyết dân gian, là chính sự linh thiêng của “Cô” (?). Những điều xác tín của ngư dân ở đây cho rằng “Cô” đã từng phù hộ, chở che những người làm nghề biển giã, giúp họ tránh được nhiều tai nạn hiểm nghèo giữa nơi sóng nước mênh mông.
Những lúc gặp may, tôm cá đầy khoang, hay gặp năm được mùa biển thì ngư dân thường cúng tạ ơn “Cô” rất to, tổ chức hát bội, ăn mừng... Những lời đồn đại về sự linh thiêng của “Cô” cứ thế lan rộng ra, thu hút khách thập phương ngày càng đông. Nơi thờ “Cô” từ một ngôi miếu nhỏ, ban đầu bằng cây lá, dần dần lợp ngói âm dương, nằm bên vạn chài, nay qua nhiều lần trùng tu đã trở thành ngôi lăng đồ sộ như một ngôi nhà ba tầng, có bậc tam cấp lên xuống, lưng dựa vào sườn núi Thùy Vân, mặt nhìn ra biển, trông rất uy nghi. Ghe thuyền khi đi ngang qua trước Dinh Cô thường có tập quán dừng lại ngoài khơi, thắp hương cúng vái rồi mới đi tiếp. Bên trong dinh, gian giữa thờ tượng “Cô”, có 4 cô hầu đứng hai bên; bên hữu là án thờ Ngũ vị Nương Nương; bên tả là án thờ Tứ Pháp Nương Nương. Ở tường bên hữu có bàn thờ ông bà thân sinh “Cô”, bên tường phía tả là bàn thờ Chúa Cậu. Gian bên cạnh là nơi thờ Mẹ Sanh.
Hằng năm lễ hội Nghinh Cô thường mở trong 3 ngày (ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch), ngày chính lễ là ngày cuối cùng. Từ sáng ngày 10, khách trẩy hội từ các nơi xa đã đổ về đây bằng các phương tiện: xe buýt, xe con, xe lam, xe gắn máy, xe đạp và tàu thuyền. Đến ngày 11 thì khách đã đông nghẹt, các khách sạn, nhà trọ và nhà dân trong thị trấn đầy ắp người. Các đội lân từ Sông Bé, dàn nhạc ngũ âm từ Trà Vinh và những đội hát múa của một số nơi kết nghĩa với Dinh Cô cũng đã tề tựu đông đủ. Tại nơi dinh thờ, khách lên xuống cúng bái chen chân không lọt. Do vậy ngay từ sáng mồng 10, ban quý tế đã tổ chức lễ cúng tiên, thường vật dâng cúng chủ yếu là hương hoa và trái cây. Lễ cầu an được tiến hành tại chính điện vào tối ngày 11.
Tham gia vào buổi tế lễ còn các vị sư từ các chùa lân cận trong vùng đến tụng kinh, gõ mõ cầu cho quốc thái dân an, mọi nhà, mọi người làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Lễ tế thường kéo dài cho đến nửa đêm. Trong khi đó ở bên ngoài Dinh Cô, cả thị trấn Long Hải đang diễn ra đêm hội hoa đăng tưng bừng, náo nhiệt. Từ con đường chính của thị trấn ra đến bãi biển, dưới ánh điện sáng trưng từ trên bờ và ánh sáng từ hàng chục ngọn đèn măng-sông từ các tàu thuyền đậu ở mé nước hắt lên, hàng vạn người đủ các lứa tuổi, những nam thanh nữ tú trong trang phục ngày hội cùng nhau vui chơi, đi lại nhộn nhịp. Các nhà hàng, quán ăn trong ánh đèn màu rực rỡ đều mở cửa đón khách.
Đặc biệt các em thiếu nhi, nhất là các em lần đầu tiên đến biển, tha hồ tung tăng, chạy nhảy trên bãi cát trắng. Tiếng nhạc tỏa ra từ hệ thống loa truyền thanh, tiếng trống múa lân rộn rã kéo dài cho đến khuya. Lễ Nghinh Cô bắt đầu vào rạng sáng ngày 12. Từ nơi Dinh Cô, vị Chánh tế dẫn đoàn rước tiến về phía mé biển, nơi một dãy tàu thuyền trang hoàng cờ hoa lộng lẫy đang chờ.
Tiếp liền đội học trò lễ trong bộ lễ phục cổ truyền, đầu đội mão, chân đi hia, là kiệu sơn son thếp vàng trên để bài vị, có lọng che và có quân cờ đi kèm hai bên. Theo sau kiệu là dàn nhạc ngũ âm và đoàn chèo bả trạo áo quần sặc sỡ. Đến mép nước biển, cả đoàn người lên chiếc “ghe lễ” (đúng ra là “tàu lễ”) có sức chở cả trăm người. Ghe lễ được trang hoàng đẹp nhất, trước mũi có đặt bàn hương án sơn đỏ, trên có lư hương và mâm trái cây. Các thành phần chính của đoàn rước dưới sự điều khiển của vị Chánh tế được mời lên chiếc ghe lễ. Số còn lại thì phân tán ra ở các ghe khác. Sau tràng pháo nổ ran, vị Chánh tế ra lệnh xuất phát. Đi đầu là chiếc ghe lễ, tiếp theo là mấy chục chiếc ghe nghề lớn, nhỏ nối đuôi nhau. Tiếng máy nổ, tiếng trống chiêng, thanh la, não bạt, tiếng nhạc của dàn nhạc ngũ âm hòa theo tiếng hát chúc nhịp nhàng của đội chèo bả trạo, trong khi đoàn thuyền rẽ sóng tiến ra khơi như một con rồng lớn lướt trên mặt nước biển xanh vào buổi sáng sớm.
Từ các thuyền những quả bóng bay đủ màu sắc bắt đầu được tung lên không trung. Khi đoàn thuyền đến địa điểm đã quy định, thì dừng lại, tạo thành một vòng tròn rộng ở giữa biển khơi. Vị Chánh tế cùng đội học trò lễ bước về phía mũi thuyền làm lễ Nghinh Cô và vái mời “Ông Nam Hải” về dinh để chứng kiến lòng thành của bá tánh. (Phần nghi thức lễ ở đây cũng tương tự như lễ Nghinh Ông mà bà con ngư dân ở đây thường tổ chức hằng năm). Trong tiếng nhạc đệm, đội chèo bả trạo cất lên lời ca nhịp nhàng, ca ngợi công đức của “Cô” và của “Ông Nam Hải”, cầu mong trong những ngày tháng tới tôm cá sẽ đầy khoang, trời yên biển lặng, ghe thuyền đi khơi về lộng được thuận buồm xuôi gió.
Hàng chục dây pháo dài từ các thuyền thi nhau nổ làm vang động cả một vùng biển. Khói pháo, khói sóng cuộn với âm thanh của trống chiêng, nhạc cụ tạo nên một không khí tưng bừng, rộn rịp, tươi vui của một buổi hội mừng công trong cảnh trời nước bao la. Khi đoàn thuyền quay về vừa đến bến trước Dinh Cô thì các đoàn múa lân từ từ tiến ra nghênh đón, trong khi hàng ngàn người khác ở trên bãi biển phất cờ, dóng trống, hò reo. Nhiều người lội ùa ra trong nước biển nghênh tiếp đoàn một cách nhiệt thành. Trên bầu trời trong vắt lúc này, hàng ngàn quả bóng bay đủ màu sắc được tung lên, cùng với hàng trăm con chim ri, chim sẻ, chim áo già... của khách hành hương “phóng sinh” nhân dịp lễ, đang hân hoan vẫy cánh được trở về với cuộc sống tự do. Kiệu rước được đưa thẳng về dinh, để sau đó tiến hành buổi tế lễ chính thức. Lễ vật dâng cúng gồm có một con heo quay, một con heo sống (làm thịt, để nguyên con), bánh trái và hương hoa.
Ngoài lễ dâng hương, dâng rượu, trà còn có múa Tam hiền và múa Mâm vàng. Trong khi đó, tại ngôi mộ “Cô” theo tục lệ chỉ cúng hoa quả. Tiếp sau buổi chánh tế là lễ Xây chầu - Đại bội (năm nào cũng thế, đều có mời đoàn hát bội về hát cả ngày lẫn đêm). Trên bãi biển, buổi chiều ngày 12 lại diễn ra nhiều trò chơi dân gian như múa lân, đấu cờ, múa bông, bắt vịt trên sóng nước... Như vậy là không gian lễ hội Nghinh Cô giờ đây đã có nhiều thay đổi. Từ một lễ hội nơi thôn dã lâu đời vốn ẩn tàng trong sự hòa điệu của thiên nhiên - vũ trụ - con người như bao lễ hội của làng quê bình dị, lễ hội Nghinh Cô đã bị sức tác động của xu thế đô thị hóa làm thay đổi đi một phần đáng kể về hình thức lẫn nội dung. Những nghi lễ, cách trang trí, trang phục của người dự hội cùng những sinh hoạt vui chơi mới và cũ, truyền thống và cách tân đan xen vào nhau.
Bên cạnh bàn hương án, kiệu rước sơn son thếp vàng, cây lọng bệ vệ, còn có những chiếc ô, cây dù hiện đại với màu sắc sặc sỡ; bên cạnh những trang phục áo thụng xanh, hia mão, khăn đóng, áo dài, còn có những chiếc áo “pull”, quần “jean”, những bộ đồ tắm mini kiểu cách tân kỳ cùng chen lấn nhau, tất cả đều vui say, cuồng nhiệt. Mặc dù ban tổ chức có để biển cấm những người ăn mặc hở hang vào nơi linh thiêng, nhưng làm sao cản được bước chân của họ? Trước kia, trong buổi chánh tế, trên bầu trời chỉ có những cánh chim “phóng sinh” của những người cầu phúc, thì nay có hàng trăm quả bóng bay cùng tung lên trời.
Thay cho ánh đuốc bập bùng, hay ngọn đèn dầu cổ xưa, nay là ánh điện đủ màu, ánh đèn măng-sông cùng pháo hoa rực rỡ. Ngay cả thành phần khách - yếu tố quan trọng cấu thành lễ hội - cũng không thuần túy là khách hành hương đến đây vì nhu cầu tâm linh, hay nhu cầu thẩm mỹ để được hòa nhập vào một sinh hoạt cộng đồng vốn đậm màu sắc dân dã. Một tỷ lệ không nhỏ trong những “khán giả” này là thị dân giàu có, đi xe đời mới, sinh hoạt, ăn uống, trang phục theo kiểu “mô-đéc”, thích những trò thời thượng và những cảm giác mạnh.
Họ đến với lễ hội vì động cơ hiếu kỳ hơn là sự thúc bách của tấm lòng thành được “về nguồn” để chiêm ngưỡng một nét đẹp xưa. Sự hiện diện của thành phần xã hội nói trên, cùng cách sinh hoạt, ăn chơi của họ có làm cho không khí lễ hội sôi động náo nhiệt hơn, hình thức cũng xôm tụ, sống động hơn, nhưng đồng thời cũng làm cho ý nghĩa và mục đích của một lễ hội dân gian cổ truyền không còn nguyên vẹn như xưa, nếu không nói là biến dạng. Thực ra, hiện tượng này không chỉ diễn ra ở lễ hội này mà thôi, có khác chăng là ở nơi này, nơi khác mức độ đậm nhạt không giống nhau. Vấn đề đặt ra là làm sao khéo điều chỉnh, giải quyết một cách hợp lý, hài hòa mối quan hệ giữa kế thừa và cách tân, giữa truyền thống và hiện đại, nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa ngày càng đa dạng của công chúng ngày nay.
Một điều đáng nói thêm ở đây là số thu của quỹ “Cúng dường” của khách thập phương hằng năm ở Dinh Cô khá lớn, Ban quản trị ở đây đã có ý thức phối hợp cùng chính quyền địa phương sử dụng số tiền đó một cách hợp lý. Ngoài phần dành cho việc tu sửa nơi thờ cúng, số tiền còn lại được trích ra xây dựng nhà tình nghĩa cho số gia đình liệt sĩ, thương binh, xây dựng trường học, treo giải thưởng khuyến khích các trẻ em nghèo học giỏi, làm các công tác từ thiện như trợ cấp bão lụt, giúp gia đình bị tai nạn, cấp quan tài cho người chết quá nghèo... Những hoạt động văn hóa kết hợp chặt chẽ với công tác xã hội đã làm tăng thêm sự cố kết cộng đồng và tình thân ái của đồng bào nơi đây.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét