Thần tích ghi, thân phụ Hai Bà Trưng quê ở làng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú cũ, nay là Vĩnh Phúc(1). Đền thờ ở gần sông Hồng, cách bến Chèm, huyện Từ Liêm (Hà Nội) 9 km về phía tây. Theo bia khắc năm 1899 thì đền được sửa lại vào năm ấy, còn năm xây không rõ.
Hội đền mở ngày mồng 6 tháng giêng. Tương truyền là ngày yến hạ khao quân. Dân trong vùng kéo đến rất đông xem lễ và dự hội. Hội có lệ cúng bánh giầy, có những trò vui cổ truyền như đấu cờ, nhún đu... Nhưng dân chúng chờ đợi một lễ mục đặc sắc là tục “Rước kiệu hội đồng”. Từ giữa tháng chạp, làng đã chọn cử xong khoảng 150 cô gái xinh đẹp và 70 chàng trai tuấn tú làm chân kiệu, chân cờ, lọng tàn... và cho tập luyện hàng tuần cho thật thành thục. Đền có ba cỗ kiệu: Hai kiệu rước thánh vị Hai Bà, kiệu thứ ba rước thánh vị ông Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc.
Kiệu ông Thi Sách sơn đen tuyền(1), kiệu Hai Bà sơn son thếp vàng. Sáng ngày 6 tháng giêng, sau lễ tế 3 tuần rượu, trống, chiêng nổi 3 hồi 9 tiếng, sửa soạn cuộc “Rước kiệu hội đồng”. Dẫn đầu đám rước là hàng dài cờ hội. Ba kiệu xuất phát từ sân đình theo thứ tự: Kiệu ông Thi Sách, kiệu bà Trưng Trắc, kiệu bà Trưng Nhị.
Kiệu ông Thi Sách do 32 trai làng khiêng, kèm với 32 người dự thi. Họ đều mang đồng phục nghi lễ: áo dài đen, quần trắng, thắt lưng màu ra ngoài, buộc múi bên sườn trái, đầu chít khăn lượt. Kiệu Hai Bà do các cô gái khiêng, cũng với số lượng như vậy, với đồng phục: áo dài tứ thân nâu, xống (váy) đen, hai vạt thắt lưng màu buộc ra sau, đầu chít khăn màu. Đám rước từ từ chuyển động rực rỡ màu sắc, trong tiếng trống chiêng, đàn nhạc vang động, cùng đồ bát bửu, lễ bộ uy nghi. Qua cửa tam quan, tới đường cái làng gọi là đường Trống Quân, thì kiệu ông Thi Sách dừng lại để kiệu Hai Bà lên trước.
Tục này gọi là “Giao kiệu”, một hành động lễ nghĩa theo phong tục “nội gia huynh đệ, ngoại quốc quân thần” (trong nhà là anh em, ra ngoài việc nước là vua tôi)(2).
(1) Thi Sách chết vì đao kiếm - có máu, kiêng màu đỏ - nên kiệu phải sơn đen. (xem Lễ rước hội ngày 6 tháng giêng năm Bính Dần - 1986). (2) Ông Thi Sách là chồng, nhưng là người chiến bại (bị kẻ thù giết). Từ sân để ra cửa Tam quan được coi là “trong nhà” (trong nhà ông là chồng, kiệu ông đi trước).
Ra đường - là việc Đền Hạ Lôi.
Đám rước tiếp tục lên đường, trang nghiêm, đúng như một cuộc hành quân lớn. Đoàn người đi theo đường Trống Quân tới đường cái, rồi tiến thẳng về đình để “Hội đồng” với 4 vị Thành hoàng Đô, Hồ, Bạch, Hạc và Thánh Cốt Tung(1). Điều hấp dẫn của đám rước còn ở chỗ trong khi vừa múa, đội quân nam nữ này còn hát khúc ca cổ, tương truyền có từ đời Hai Bà, người ta đặt ra để nam nữ đối đáp nhau trên đường hành quân, cổ vũ binh sĩ.
Nỗi niềm tâm sự than thở cùng ai Đoái trông phương đông: nước rộng mênh mông. Đoái trông phương tây: đá trắng gồ ghề. Đoái trông phương nam: mây che đầu ngàn. Đoái trông phương bắc: núi non cao ngất! (Đồng ca nam nữ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét