Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

HỘI ĐỀN ĐỒNG NHÂN (Hà Nội)

 Đền Đồng Nhân dựng năm 1160. Theo truyền tích, đêm mồng 6 tháng 2 năm ấy, có 2 pho tượng Hai Bà Trưng bằng đá trôi theo dòng sông Hồng, dạt vào bờ, tỏa sáng bãi Đồng Nhân (?), cho là điềm quái lạ, dân làng làm lễ rước tượng về thờ. Sau này, biết chuyện, vua Lý Anh Tông truyền lập đền thờ tại chỗ.

nước, Hai Bà Trưng là vua, ông Thi Sách chỉ là dân, là bề dưới, phải đi sau. (1) Đô, Hồ, Bạch, Hạc là bốn người đầu tiên lập ra làng Hạ Lôi. Cốt Tung là người phù tá vua Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ 18) chống Thục.

Từ sớm mồng 5, chủ lễ cùng các chức sắc, bô lão đã tề tựu đông đủ. Các chân kiệu, chân cờ, người vác lọng và phường nhạc tề tựu đầy đủ. Đám rước thánh giá cử hành uy nghi từ đền ra sông Hồng. Tới bờ sông, thánh giá được khiêng xuống thuyền, có chủ lễ, cụ từ và mấy chức sắc, bô lão đi theo. Tới giữa dòng nước sạch, các cụ tắm tượng. 


Xong, thuyền quay về bờ để rước tượng trở về. Suốt dọc đường, đám rước diễu qua các thôn đều đặt hương án bái vọng tới đền, khi thánh giá yên vị rồi, cuộc tế bắt đầu. Năm phong đăng hòa cốc, làng cử chọn các bà, các chị theo chuẩn mực đạo đức, không tang chế, để tế nữ quan. Lễ mục đặc sắc, tươi vui nhất của hội Đồng Nhân là múa đèn thờ. 

Tốp múa đèn gồm từ 10 đến 12 người đều là các cô gái tuổi thanh xuân, đẹp, tầm vóc như nhau, mềm mại, đã được tập luyện chu đáo. Nữ vũ công mặc áo dài đen, quần hồng, thắt lưng đỏ ngoài áo buộc nút cạnh sườn, đầu chít khăn lụa màu. 

Đèn là những chiếc đài bằng gỗ nhỏ, dán hoa giấy màu bọc quanh. Ngọn nến thắp sáng cắm giữa lòng đài. Mỗi người cầm hai đèn ở hai tay, xếp hàng đôi trước hương án. Điệu múa uyển chuyển, bước lên xuống, đan chéo lúc nhập một, lúc tách hàng đôi theo tiếng trống cơm bập bùng nhịp nhàng của “con đĩ đánh bồng”(1). Dẫn đầu! Đĩ đánh bồng là một vũ công giỏi, nam đóng giả nữ, điều khiển cuộc trình diễn nghệ thuật. 

Nhân vật này mặc áo the, quần trắng, khăn lượt, thắt lưng xanh, buộc múi bên sườn, đeo ngang lưng chiếc trống cơm bằng những dải lụa nhiều màu quàng qua cổ. Sau lưng cắm 2 hoặc 4 lá cờ đuôi nheo nhỏ, vừa đi uốn éo, vừa lấy hai tay vỗ vào 2 mặt trống, tạo nên âm thanh “bập bùng” giữ nhịp cho đoàn múa. Cùng lúc ấy, nhân dân - nhất là các bà - đứng sát bục cửa đền, bước vào hương án vái lễ. Ngày mồng 6 rã đám, có tế và lễ dâng hương kết thúc.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét