Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc đẹp trên núi Nghĩa Lĩnh, tức núi Hùng, thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây, mỗi công trình kiến trúc đều hàm chứa nội dung huyền thoại hòa lẫn hiện thực theo dòng lịch sử chảy trôi, làm cho người đi hội hôm nay như thấy quá khứ và hiện tại quyện vào nhau. Khí thiêng sông núi như tôn thêm cho ngày hội non sông thêm rạng rỡ; từ đó, hình thành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Từ cổng đền Lớn (Đại môn) dưới chân núi, bức đại tự phía trên mang dòng chữ “Cao sơn cảnh hàng” (Núi cao đường lớn) vui vẻ chào đón mọi người.
Vượt 225 bậc xi măng, khách tới đền Hạ, nơi bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai. Lạc Long Quân dẫn 50 người về xuôi, Âu Cơ dẫn 49 con lên ngược; để lại người con trưởng làm vua, xưng là Hùng Vương, định đô ở Phong Châu. Vượt 168 bậc nữa, là tới đền Trung; nơi ngày xưa các vua Hùng thường lui tới bàn việc nước cùng các Lạc tướng. Cũng tại đây, Lang Liêu, chàng hoàng tử nghèo, hiếu trung, đã dâng biếu vua cha nhân ngày Tết Cả, những tấm bánh chưng, bánh giầy, do mình làm ra bằng hạt gạo mình trồng được. Lại vượt 102 bậc nữa, tới đền Thượng. Xưa kia, vua Hùng thường cùng các lão làng lập đàn tế trời đất, cầu thần Lúa. Cũng là nơi Hùng Vương thứ 6 lập đền thờ Thánh Gióng, sau khi giết được giặc Ân.
Cạnh đền có ngôi lăng nhỏ, cổ kính là mộ Tổ. Trước đến, chếch bên phải có một cột đá cao trên 1 m, đường kính khoảng 30 cm, theo truyền thuyết, là cột đá thề. Thục An Dương Vương khi lên ngôi vua, trước vong linh tiên tổ, đã thề trọn đời gìn giữ giang sơn nhà Hùng. Từ đền Thượng, phóng tầm mắt về phía trước, khách chiêm ngưỡng 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ - Nghĩa Lĩnh - uy nghiêm; riêng một con quay lưng lại; “ăn ở ra lòng riêng tư” đã bị mất đầu, mãi mãi phải xa lìa bầy đàn, nguồn cội. Bài học bằng đá cho tới nay vẫn có giá trị nhắc nhở hậu thế về lòng hiếu nghĩa ở đời.
Trở xuống đền Hạ chếch về phía Đông Nam là đền Giếng. Trong đền có giếng Ngọc, nước trong như tên gọi, xưa kia hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con vua Hùng thứ 18 hằng ngày soi bóng, chải tóc, vấn khăn. Lễ hội đền Hùng là dịp giỗ Tổ thiêng liêng. Hàng năm vào cuối xuân, nhân dân cả nước lại hướng về đất Tổ, nô nức hành hương, tưởng niệm các vua Hùng, dòng vua mở nước và dựng nghiệp, lập ra Nhà nước Văn Lang cổ đại. Tháng giêng giỗ Thánh Sóc Sơn, Tháng ba giỗ Tổ Hùng Vương nhớ về. Hoặc là: Dù ai đi gần về xa, Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười. Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Hội kéo dài từ mồng 8 tới ngày 11 tháng 3 âm lịch, mà mồng 10 là chính hội. Năm nào hội cũng nhộn nhịp chào đón hàng vạn, hàng chục vạn người hành hương từ mọi miền đất nước, cũng như kiều bào và khách nước ngoài.
Mở đầu bằng buổi quốc lễ sáng mồng 10, sau đó là các đám rước đặc sắc, các cuộc hát thi cùng các trò chơi truyền thống của người Việt, người Mường. Theo hội lệ, ba làng sở tại là Cổ (Cổ Tích), Vi (Vi Cương), Trẹo (Triệu Phú) cùng tổ chức đám rước tới đền. Đám rước có voi (nan), ngựa (gỗ) với ý nghĩa muôn loài quy phục vua Hùng; đồng thời cũng là tượng trưng việc “chú rể Sơn Tinh” mang quân giá đi đón “cô dâu Ngọc Hoa” trong lễ thách cưới và đưa dâu. Đám rước cỗ chay và mâm ngũ quả không được thiếu với lễ vật là bánh chưng, bánh giầy; nhắc lại sự tích Lang Liêu, cũng là nhắc nhở công đức các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa.Lăng Vua Hùng tại Đền Hùng, Phú Thọ.
Những năm được mùa, các làng Chu Hòa, Sơn Vi, Do Nghĩa, Trung Đức, An Thái, Diễm Lâu, Tiên Cát... lân cận và bên kia sông Lô cũng nô nức rước ngai thờ của làng về dự giỗ Tổ. Lễ vật ngoài bánh trái còn có cỗ “tam sinh” gồm lợn sống cạo lông, bỏ lòng, mỡ chài phủ kín toàn thân con vật, bò, dê, mỗi thứ một con đều cũng cạo sạch lông, thui vàng để nguyên con, cùng với xôi trắng, tím, đỏ và rượu mộng. Đám rước có kiệu Bát cống, kiệu Long đình, hai ông hiệu cờ cầm cờ nheo nhỏ chỉ huy, một ông đi trước, một ông theo sau kiệu. Lễ phục là áo võ màu đen, thêu rồng mây trước ngực. Trên hai vai mỗi ông cắm 4 lá cờ nhỏ màu đỏ, đội mũ võ, chân quấn xà cạp, hia đen. Một ông hiệu trống mang trống khẩu giữ nhịp.
Tám người vác chấp kích (bát bửu) đi trước kiệu, mắt nhìn phía trước, bước chậm rãi và nghiêm. Tám người vác cờ theo sau. Phía trong hai hàng người chấp kích là phường bát âm. Họ mặc áo the, quần trắng, thắt lưng lụa xanh, đỏ, đầu đội khăn xếp đen. Kiệu có hai lọng hai bên. Mỗi ông hiệu trống, chiêng đều có lọng che. Trống, chiêng đánh 3 tiếng một đối đáp nhau. Người rước đi bước một. Cứ khoảng 15 phút lại đánh 3 hồi đổ dồn. Ông hiệu cờ phất đi, phất lại lá cờ theo nhịp chung. Ông hiệu trống vừa bồi trống vừa reo “hú-u” 3 lần. Tất cả đồng thanh “huy, huy...” hưởng ứng. Nhưng đi đầu đám rước thường là hai thanh niên đi hai bên vác biển nhỏ, một đề chữ “hồi tỵ” một đề chữ “tĩnh túc”(1).
Đoàn người bỗng hò reo khi tới đền Hạ. Những người vác cờ xí chạy vòng quanh đền. Các cỗ kiệu chợt chuyển động nhanh, rập rình như có phép lạ, gọi là “kiệu bay”. “Kiệu bay” là thánh vui, có nghĩa là điềm lành. Trong lúc đó, khi tế lễ xong ở đền Thượng, có múa hát Xoan thờ và trình thánh. Đây là loại hát mùa Xuân (Xoan), dân ca của Phú Thọ. Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đào ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần hát nghi lễ của Xoan. (1) Hồi tỵ: tránh đi. Tục kiêng xưa. Đám rước tượng trưng cuộc hành quân, xuất trận. Những người có tang hoặc tàn tật (bị coi là rủi ro) phải tránh để việc quân được may mắn. Tĩnh túc: yên lặng, cung kính. Trước đám rước mọi người phải yên lặng tỏ lòng cung kính. Đây là hai biên giữ an ninh, trật tự cho đám rước.
Ở đền Hạ có hát ca trù (còn gọi là hát nhà tơ, hát ả đào), cũng là loại hát thờ trước cửa đình, mừng dâng thánh trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn. Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Đu làm theo hình guồng lấy nước ở miền núi, có từ 4 đến 8 bàn đu (ghế ngồi). Mỗi bàn đu có hai cô tiên (cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi.
Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của phụ nữ. Đu quay như guồng nước chảy. Các cô tiên vừa đu, vừa hát: Này lên! Này lên! Này lên! Lên non Cổ Tích, lên đền Hùng Vương... ...Đu tiên mới dựng năm nay, Cô nào hay hát kỳ này thì lên. Tháng ba nô nức hội đền, Là ngày giỗ Tổ mấy nghìn năm nay... Ở một khoảng rộng khác, trai gái rủ nhau chơi ném còn. Còn là quả cầu to bằng quả cam, bọc vải, trong ruột nhồi bông, hoặc cỏ, phía đuôi có kết những tua lụa màu ngũ sắc sặc sỡ. Giữa sân còn trồng một cây tre cao trên ngọn người ta buộc một vòng tre tròn, đường kính độ 30 cm, gọi là vòng còn. Vòng còn được dán kín bằng tờ giấy hồng mỏng.
Người chơi chia làm hai phe, nam riêng, nữ riêng, số lượng không quy định. Hễ người nào tung quả còn lọt vòng, làm thủng giấy hồng sang bên kia là được cuộc. Người xem đứng quây tròn bên ngoài hò reo tán thưởng. Người xưa quan niệm đây cũng là trò chơi lễ nghi, phong tục, cầu lộc, cầu duyên. Nam nữ tượng trưng cho âm dương.
Tờ giấy hồng mỏng dán ở vòng còn tượng trưng “màng trinh” phụ nữ. Ai ném trúng vòng còn, năm ấy sẽ gặp duyên may hạnh phúc. Vào những thập niên đầu thế kỷ này, người Mường còn mang trống đồng về dự hội. Trống được treo thẳng đứng trên giá. Mặt trống ở phía trên, miệng trống loe đặt trên một cái hố nông đào sẵn. Người ta dùng chày đâm thẳng xuống mặt trống đồng. Âm thanh phát ra từ hố, nghe âm vang như tiếng núi, tiếng rừng vọng lại.
Đây là trò diễn “Chàm thau” (đâm trống đồng). Biểu diễn “chàm thau” có người làm “cái” người làm “con”. Người cái cầm hai dùi, con cầm một dùi. “Cái” đánh trước, “con” đánh sau một cách nhịp nhàng theo tiết tấu riêng, hợp với thân hình đong đưa, uyển chuyển của “cái” và “con”. “Chàm thau” gợi lại lối sống “bầy đàn” của người tiền sử, chất phác, những đêm hội lửa trại... Ngoài “chàm thau” lại có “đâm đuống” hay “chàm đuống” cũng của đồng bào Mường. “Chàm đuống” là lối giã gạo trong cối gỗ hình thuyền dài, do phụ nữ trình tấu. Người “đâm đuống” tay phải cầm chày, tay trái cầm bó lúa, trở lúa đều theo nhịp chày. Cuộc biểu diễn mang mục đích cầu mùa nghề nông.
Lễ hội xưa còn biết bao trò chơi vui khỏe khác như bắn nỏ, đấu vật, chơi cờ hay múa rối, mà lời chào mời vẫn để lại cho tới hôm nay: Hội đền vui lắm ai ơi, Kẻ thời giỗ Tổ, người thời đu tiên. Tổ tôm đánh ở bên trên, Có người bên dưới, đôi bên vui vầy. Lại thêm phường rối leo dây, Múa dao, tung quả có hay chăng là. Lại thêm có đám xướng ca, Để cho trai gái gần xa vui vầy... Hội đền Hùng hay giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Nam chung sức xây dựng đất nước ngày một phồn vinh.
Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất Tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam, cho dù họ sống ở bất cứ phương trời nào. Khách trẩy hội, sau những cuộc lễ trang nghiêm, gợi nhớ về cội nguồn dân tộc và tham dự những sinh hoạt văn hóa đặc sắc, khi ra về còn có thể mua làm quà ở những quầy hàng đặc sản Vĩnh Phúc ở quanh chân núi Nghĩa Lĩnh, nào bưởi Đoan Hùng, dừa Tam Đảo, chè Phú Thọ hoặc những loại hàng thủ công mĩ nghệ độc đáo khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét