Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Làm mới sách xưa theo cách của bạn

Rất nhiều tác phẩm được xuất bản cách đây cả nửa thế kỷ đã được "hồi sinh" và tái bản trong diện mạo mới. Về nội dung, các đơn vị xuất bản vẫn giữ nguyên bản thảo gốc nhưng có những chú giải, lời giới thiệu để bạn đọc của ngày hôm nay dễ dàng tiếp cận hơn.

Một số đầu sách đáng chú ý như Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim bản in năm 1954 của NXB Tân Việt và được chính tác giả chỉnh sửa trước khi mất. Hồi tháng 9, NXB Kim Đồng tái bản tác phẩm này kèm theo Mấy lời nói đầu cho cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim do ái nữ của tác giả là Trần Thị Diệu Chương chấp bút.

Hay như trường hợp cuốn Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kỳ là một khảo cứu của Đào Trinh Nhất, ra mắt năm 1924. Vừa qua, nhà sách Tao Đàn đã tái bản cuốn sách hay nên đọc về cuộc sống  này với lời dẫn của TS. Nguyễn Mạnh Tiến.




Sách mới nới sách cũ

Từ lâu, phong trào sưu tầm sách xưa ở Việt Nam đã tồn tại bền bỉ dù âm ỉ. Trước đây, các bộ sách xưa quý hiếm thường chỉ lưu hành hạn chế trong giới sưu tầm.

Các nhà sưu tầm sách xưa thường thực hiện giao dịch thông qua qua những diễn đàn như sachxua.net hoặc tìm kiếm trực tiếp ở các hiệu sách cũ tại phố Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Nhân Tôn... (Sài Gòn) hay đường Láng, Trần Quốc Hoàn, Giải Phóng… (Hà Nội). Thời mạng xã hội lên ngôi, các nhà sưu tầm này chuyển sang giao lưu, mua bán trên facebook…

Tại Sài Gòn, các NXB nổi tiếng trước năm 1975 có Tân Việt (chuyên sách giáo khoa văn, sử), Hiện Đại (sách dịch), Lửa Thiêng (địa chất, lịch sử, kỹ thuật), Ca Dao (sách triết), Lá Bối (sách triết, Phật học). Ở Huế, nhà Anh Minh nổi tiếng với di cảo của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... 

Một mặt, những bản sách xưa, sách cũ mang giá trị lịch sử. Nhưng mặt khác, về giá trị nội dung, rất nhiều tác phẩm không được tái bản trong thời gian dài khiến độc giả nói chung khó được tiếp cận dù giá trị về nội dung là không hề nhỏ.

Chính vì thế, điều đáng vui mừng của phong trào làm lại sách xưa là việc các giá trị trường tồn nêu trên của sách xưa đến với số đông bạn đọc. Độc giả có thể thấm đẫm trong không khí khách quan lịch sử của tác giả Trần Trọng Kim, cẩn trọng khảo cứu của Đào Trinh Nhất hay mơ màng với những tác giả nhóm Tự Lực Văn Đoàn… với các bản in mới trên nền bản cũ sách xưa.

Những giá trị vượt thời gian

Việc in lại bản cũ sách xưa giúp cho độc giả ngày nay sống lại không khí, cách in, lên morrase ở thời điểm mới ra đời của quyển sách. Đặt mình trong không gian nghiêm cẩn ấy, người đọc sẽ thấy mình như ngược thời gian, tìm lại những hàng xưa, chữ cũ, chơi vơi trong véc tơ thời gian chảy ngược trong tâm tưởng. 

Một giá trị khác không kém phần quan trọng, đó là yếu tố tư liệu. Không dễ để những người cần quan tâm như giới nghiên cứu, sinh viên hôm nay có thể tiếp cận những tác phẩm được in cách đây vào thập kỷ. Chính vì thế, cái công thức "bình mới rượu cũ" ở đây lại rất cần thiết.

Người viết may mắn được sở hữu cuốn giáo khoa pháp chế sử xưa của giáo sư Vũ Văn Mẫu. Trên cuốn sách này có mấy hàng đề tựa "Ôn cố nhi tri tân" và "Uống nước nhớ nguồn". Ngẫm lại mới thấy lời biên trên sách thật nhiều ý nghĩa...

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

NHỮNG LÁ THƯ KHÔNG GỬI

Cuộc sống là một chiếc hộp bí ẩn với vô số điều bất ngờ. Hạnh phúc sẽ tới với những ai sẵn sàng mở cửa trái tim để đón nhận hạnh phúc. Hãy thay đổi để thấy cuộc đời đẹp hơn. 

Cậu bé Ernest Morlaisse 10 tuổi, nhân vật chính của tác phẩm dành cho thiếu nhi Những lá thư không gửi là một đứa trẻ tội nghiệp.

Mất mẹ từ khi mới lọt lòng, cha bỏ đi biệt tích, chú nhóc đáng thương sống chuỗi ngày buồn tẻ bên bà nội đã 80 tuổi, người mà chẳng mấy khi bước chân ra khỏi phòng. Hàng ngày, bà dùng toàn bộ thời gian để ngồi im lặng và tưởng nhớ về những người thân đã khuất.

Với những đứa trẻ khác, Ernest giống như một ông già sống trong hình hài của một cậu bé lớp năm. Cuộc sống của cậu nhóc tội nghiệp chỉ xoay quanh việc tới trường rồi về nhà và học bài.
Bà nội không thích ti vi và các phương tiện hiện đại. Thậm chí nhà của họ còn chẳng có điện thoại. Ernest không biết tới phim hoạt hình hay các chương trình giải trí yêu thích.

Cuộc sống của “ông cụ non” bỗng chốc thay đổi hoàn toàn khi cô bạn Victoire hoạt bát chuyển tới lớp của cậu. Ngay từ buổi học đầu tiên, cô bé thân thiện đã chủ động nói chuyện với Ernest và mời cậu bạn tới nhà chơi. Gia đình của Victoire mang đến nhiều điều bất ngờ cho chú bé từ trước tới nay luôn nhốt mình trong vỏ ốc.

Đó là một gia đình đông đúc có tới 14 người con, 13 trai và một nàng công chúa. Lần đầu tiên Ernest biết thế nào là tới nhà bạn chơi và được mời được mời ăn trưa.

Không chỉ có Victoire mà cả ba mẹ và những người anh em của cô bé đều chào đón Ernest bằng một trái tim rộng mở. Cậu bé nhút nhát dần bước ra khỏi lớp vỏ cô độc để sống đúng với tuổi của mình.
Nhờ có Victoire mà Ernest đã thổ lộ với bà nội những tâm sự mà bấy lâu nay cậu giữ kín trong lòng. Đó có thể là ước muốn được đi dạo trong công viên gần nhà, hay tới nhà hàng ăn một bữa trưa mới lạ, hấp dẫn. Lần đầu tiên trong đời, Ernest đã hỏi bà về cha mình. Người đàn ông bỗng nhiên biến mất trong cuộc sống của hai bà cháu sau cái chết của mẹ cậu.

Kể từ khi biết được rằng cha vẫn còn sống, hình ảnh của ông luôn ở trong tâm trí cậu. Trong một lần đi siêu thị cùng các anh của Victoire, Ernest tìm thấy cuốn sách của nhà văn Gaspard Morlaisse. Một linh cảm rất lạ cứ thế nảy nở trong lòng cậu bé. Dù có thể chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên về tên họ, nhưng Ernest có cảm giác nhà văn ấy chính là cha mình.

Ernest đã kể với anh trai của Victoire rằng cậu bé chưa bao giờ nhận được thư. Sau lời tâm sự ấy, lá thư đầu tiên mà Ernest nhận được chính là từ Benjamin, cậu anh thích sưu tầm tem của Victoire.
Bất ngờ hơn, vào một buổi sáng đẹp trời, cậu bé nhận được một thùng đầy thư. Chúng là những lá thư từ cha cậu, nhà văn Gaspard Morlaisse viết cho con trai từ khi mới chào đời.

Ernest không bị bỏ rơi như cậu bé vẫn nghĩ. Từng giây, từng khắc, cha cậu luôn nhớ về đứa con tội nghiệp. Chỉ là ông không đủ can đảm để đối mặt với Ernest sau cái chết của mẹ cậu bé.
Giờ đây, Ernest cô đơn không phải ghen tỵ với gia đình đông đúc của Victoire nữa. Cậu bé cũng có một gia đình ấm cúng với cha mẹ và 5 cô em gái dễ thương.


Những cuốn sách hay sẽ mang đến cho bạn đọc nhỏ tuổi nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau. Trong từng trang sách thấm đẫm sự hồn nhiên, lém lỉnh rất trẻ con của Ernest và Victoire. Dù là nhân vật chính xuyên suốt câu chuyện, hay các nhân vật phụ chỉ xuất hiện ngắn ngủi, tất cả đều được tác giả chăm chút để tạo nên cá tính riêng.

Những lá thư không gửi của nhà văn người Pháp gốc Mỹ, Susie Morgenstern là một câu chuyện cảm động khiến người ta phải nâng niu.

Từ những người bạn nhỏ như Ernest và Victoire ta cảm thấy trân trọng hơn những giá trị của cuộc sống như tình bạn, tình cảm gia đình, sự khoan dung và lòng tốt. Cuộc đời sẽ đẹp hơn nếu chúng ta sẵn sàng chìa tay ra khi ai đó cần sự giúp đỡ.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

HỘI ĐỀN HÙNG

 Khu di tích đền Hùng là một quần thể kiến trúc đẹp trên núi Nghĩa Lĩnh, tức núi Hùng, thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Nơi đây, mỗi công trình kiến trúc đều hàm chứa nội dung huyền thoại hòa lẫn hiện thực theo dòng lịch sử chảy trôi, làm cho người đi hội hôm nay như thấy quá khứ và hiện tại quyện vào nhau. Khí thiêng sông núi như tôn thêm cho ngày hội non sông thêm rạng rỡ; từ đó, hình thành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Từ cổng đền Lớn (Đại môn) dưới chân núi, bức đại tự phía trên mang dòng chữ “Cao sơn cảnh hàng” (Núi cao đường lớn) vui vẻ chào đón mọi người. 

Vượt 225 bậc xi măng, khách tới đền Hạ, nơi bà Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai. Lạc Long Quân dẫn 50 người về xuôi, Âu Cơ dẫn 49 con lên ngược; để lại người con trưởng làm vua, xưng là Hùng Vương, định đô ở Phong Châu. Vượt 168 bậc nữa, là tới đền Trung; nơi ngày xưa các vua Hùng thường lui tới bàn việc nước cùng các Lạc tướng. Cũng tại đây, Lang Liêu, chàng hoàng tử nghèo, hiếu trung, đã dâng biếu vua cha nhân ngày Tết Cả, những tấm bánh chưng, bánh giầy, do mình làm ra bằng hạt gạo mình trồng được. Lại vượt 102 bậc nữa, tới đền Thượng. Xưa kia, vua Hùng thường cùng các lão làng lập đàn tế trời đất, cầu thần Lúa. Cũng là nơi Hùng Vương thứ 6 lập đền thờ Thánh Gióng, sau khi giết được giặc Ân.

 Cạnh đền có ngôi lăng nhỏ, cổ kính là mộ Tổ. Trước đến, chếch bên phải có một cột đá cao trên 1 m, đường kính khoảng 30 cm, theo truyền thuyết, là cột đá thề. Thục An Dương Vương khi lên ngôi vua, trước vong linh tiên tổ, đã thề trọn đời gìn giữ giang sơn nhà Hùng. Từ đền Thượng, phóng tầm mắt về phía trước, khách chiêm ngưỡng 99 ngọn núi lớn nhỏ, hình bầy voi quỳ hướng về núi Mẹ - Nghĩa Lĩnh - uy nghiêm; riêng một con quay lưng lại; “ăn ở ra lòng riêng tư” đã bị mất đầu, mãi mãi phải xa lìa bầy đàn, nguồn cội. Bài học bằng đá cho tới nay vẫn có giá trị nhắc nhở hậu thế về lòng hiếu nghĩa ở đời. 

Trở xuống đền Hạ chếch về phía Đông Nam là đền Giếng. Trong đền có giếng Ngọc, nước trong như tên gọi, xưa kia hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con vua Hùng thứ 18 hằng ngày soi bóng, chải tóc, vấn khăn. Lễ hội đền Hùng là dịp giỗ Tổ thiêng liêng. Hàng năm vào cuối xuân, nhân dân cả nước lại hướng về đất Tổ, nô nức hành hương, tưởng niệm các vua Hùng, dòng vua mở nước và dựng nghiệp, lập ra Nhà nước Văn Lang cổ đại. Tháng giêng giỗ Thánh Sóc Sơn, Tháng ba giỗ Tổ Hùng Vương nhớ về. Hoặc là: Dù ai đi gần về xa, Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mùng mười. Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba. Hội kéo dài từ mồng 8 tới ngày 11 tháng 3 âm lịch, mà mồng 10 là chính hội. Năm nào hội cũng nhộn nhịp chào đón hàng vạn, hàng chục vạn người hành hương từ mọi miền đất nước, cũng như kiều bào và khách nước ngoài. 

Mở đầu bằng buổi quốc lễ sáng mồng 10, sau đó là các đám rước đặc sắc, các cuộc hát thi cùng các trò chơi truyền thống của người Việt, người Mường. Theo hội lệ, ba làng sở tại là Cổ (Cổ Tích), Vi (Vi Cương), Trẹo (Triệu Phú) cùng tổ chức đám rước tới đền. Đám rước có voi (nan), ngựa (gỗ) với ý nghĩa muôn loài quy phục vua Hùng; đồng thời cũng là tượng trưng việc “chú rể Sơn Tinh” mang quân giá đi đón “cô dâu Ngọc Hoa” trong lễ thách cưới và đưa dâu. Đám rước cỗ chay và mâm ngũ quả không được thiếu với lễ vật là bánh chưng, bánh giầy; nhắc lại sự tích Lang Liêu, cũng là nhắc nhở công đức các vua Hùng đã dạy dân trồng lúa.Lăng Vua Hùng tại Đền Hùng, Phú Thọ.

Những năm được mùa, các làng Chu Hòa, Sơn Vi, Do Nghĩa, Trung Đức, An Thái, Diễm Lâu, Tiên Cát... lân cận và bên kia sông Lô cũng nô nức rước ngai thờ của làng về dự giỗ Tổ. Lễ vật ngoài bánh trái còn có cỗ “tam sinh” gồm lợn sống cạo lông, bỏ lòng, mỡ chài phủ kín toàn thân con vật, bò, dê, mỗi thứ một con đều cũng cạo sạch lông, thui vàng để nguyên con, cùng với xôi trắng, tím, đỏ và rượu mộng. Đám rước có kiệu Bát cống, kiệu Long đình, hai ông hiệu cờ cầm cờ nheo nhỏ chỉ huy, một ông đi trước, một ông theo sau kiệu. Lễ phục là áo võ màu đen, thêu rồng mây trước ngực. Trên hai vai mỗi ông cắm 4 lá cờ nhỏ màu đỏ, đội mũ võ, chân quấn xà cạp, hia đen. Một ông hiệu trống mang trống khẩu giữ nhịp. 


Tám người vác chấp kích (bát bửu) đi trước kiệu, mắt nhìn phía trước, bước chậm rãi và nghiêm. Tám người vác cờ theo sau. Phía trong hai hàng người chấp kích là phường bát âm. Họ mặc áo the, quần trắng, thắt lưng lụa xanh, đỏ, đầu đội khăn xếp đen. Kiệu có hai lọng hai bên. Mỗi ông hiệu trống, chiêng đều có lọng che. Trống, chiêng đánh 3 tiếng một đối đáp nhau. Người rước đi bước một. Cứ khoảng 15 phút lại đánh 3 hồi đổ dồn. Ông hiệu cờ phất đi, phất lại lá cờ theo nhịp chung. Ông hiệu trống vừa bồi trống vừa reo “hú-u” 3 lần. Tất cả đồng thanh “huy, huy...” hưởng ứng. Nhưng đi đầu đám rước thường là hai thanh niên đi hai bên vác biển nhỏ, một đề chữ “hồi tỵ” một đề chữ “tĩnh túc”(1). 

Đoàn người bỗng hò reo khi tới đền Hạ. Những người vác cờ xí chạy vòng quanh đền. Các cỗ kiệu chợt chuyển động nhanh, rập rình như có phép lạ, gọi là “kiệu bay”. “Kiệu bay” là thánh vui, có nghĩa là điềm lành. Trong lúc đó, khi tế lễ xong ở đền Thượng, có múa hát Xoan thờ và trình thánh. Đây là loại hát mùa Xuân (Xoan), dân ca của Phú Thọ. Mở đầu, ông trùm phường Xoan Kim Đức - phường nổi tiếng - cùng chủ tế đứng trước hương án hát chúc bằng bài khấn nguyện. Sau đó là một kép trẻ đeo trống nhỏ trước ngực ra làm trò giáo trống, giáo pháo. Tiếp theo, bốn cô đào ra hát thơ nhang và dâng hương bằng giọng hát lề lối. Rồi đến những bài ca ngợi thánh thần kết thúc phần hát nghi lễ của Xoan. (1) Hồi tỵ: tránh đi. Tục kiêng xưa. Đám rước tượng trưng cuộc hành quân, xuất trận. Những người có tang hoặc tàn tật (bị coi là rủi ro) phải tránh để việc quân được may mắn. Tĩnh túc: yên lặng, cung kính. Trước đám rước mọi người phải yên lặng tỏ lòng cung kính. Đây là hai biên giữ an ninh, trật tự cho đám rước.

Ở đền Hạ có hát ca trù (còn gọi là hát nhà tơ, hát ả đào), cũng là loại hát thờ trước cửa đình, mừng dâng thánh trong dịp hội làng, do phường hát Do Nghĩa trình diễn. Ngoài sân đền Hạ, ở nơi thoáng đãng có đu tiên. Đu làm theo hình guồng lấy nước ở miền núi, có từ 4 đến 8 bàn đu (ghế ngồi). Mỗi bàn đu có hai cô tiên (cô gái Mường trẻ mặc đẹp) ngồi. 


Đu quay được là do các cô luân phiên lấy chân đạp đất. Đu tiên là trò chơi đẹp mắt, nhịp nhàng của phụ nữ. Đu quay như guồng nước chảy. Các cô tiên vừa đu, vừa hát: Này lên! Này lên! Này lên! Lên non Cổ Tích, lên đền Hùng Vương... ...Đu tiên mới dựng năm nay, Cô nào hay hát kỳ này thì lên. Tháng ba nô nức hội đền, Là ngày giỗ Tổ mấy nghìn năm nay... Ở một khoảng rộng khác, trai gái rủ nhau chơi ném còn. Còn là quả cầu to bằng quả cam, bọc vải, trong ruột nhồi bông, hoặc cỏ, phía đuôi có kết những tua lụa màu ngũ sắc sặc sỡ. Giữa sân còn trồng một cây tre cao trên ngọn người ta buộc một vòng tre tròn, đường kính độ 30 cm, gọi là vòng còn. Vòng còn được dán kín bằng tờ giấy hồng mỏng. 

Người chơi chia làm hai phe, nam riêng, nữ riêng, số lượng không quy định. Hễ người nào tung quả còn lọt vòng, làm thủng giấy hồng sang bên kia là được cuộc. Người xem đứng quây tròn bên ngoài hò reo tán thưởng. Người xưa quan niệm đây cũng là trò chơi lễ nghi, phong tục, cầu lộc, cầu duyên. Nam nữ tượng trưng cho âm dương. 

Tờ giấy hồng mỏng dán ở vòng còn tượng trưng “màng trinh” phụ nữ. Ai ném trúng vòng còn, năm ấy sẽ gặp duyên may hạnh phúc. Vào những thập niên đầu thế kỷ này, người Mường còn mang trống đồng về dự hội. Trống được treo thẳng đứng trên giá. Mặt trống ở phía trên, miệng trống loe đặt trên một cái hố nông đào sẵn. Người ta dùng chày đâm thẳng xuống mặt trống đồng. Âm thanh phát ra từ hố, nghe âm vang như tiếng núi, tiếng rừng vọng lại. 

Đây là trò diễn “Chàm thau” (đâm trống đồng). Biểu diễn “chàm thau” có người làm “cái” người làm “con”. Người cái cầm hai dùi, con cầm một dùi. “Cái” đánh trước, “con” đánh sau một cách nhịp nhàng theo tiết tấu riêng, hợp với thân hình đong đưa, uyển chuyển của “cái” và “con”. “Chàm thau” gợi lại lối sống “bầy đàn” của người tiền sử, chất phác, những đêm hội lửa trại... Ngoài “chàm thau” lại có “đâm đuống” hay “chàm đuống” cũng của đồng bào Mường. “Chàm đuống” là lối giã gạo trong cối gỗ hình thuyền dài, do phụ nữ trình tấu. Người “đâm đuống” tay phải cầm chày, tay trái cầm bó lúa, trở lúa đều theo nhịp chày. Cuộc biểu diễn mang mục đích cầu mùa nghề nông. 

Lễ hội xưa còn biết bao trò chơi vui khỏe khác như bắn nỏ, đấu vật, chơi cờ hay múa rối, mà lời chào mời vẫn để lại cho tới hôm nay: Hội đền vui lắm ai ơi, Kẻ thời giỗ Tổ, người thời đu tiên. Tổ tôm đánh ở bên trên, Có người bên dưới, đôi bên vui vầy. Lại thêm phường rối leo dây, Múa dao, tung quả có hay chăng là. Lại thêm có đám xướng ca, Để cho trai gái gần xa vui vầy... Hội đền Hùng hay giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Nam chung sức xây dựng đất nước ngày một phồn vinh. 

Người đến hội mang theo lòng ngưỡng mộ sâu đậm về quê cha đất Tổ, một tín ngưỡng đã ăn sâu vào tâm thức người Việt Nam, cho dù họ sống ở bất cứ phương trời nào. Khách trẩy hội, sau những cuộc lễ trang nghiêm, gợi nhớ về cội nguồn dân tộc và tham dự những sinh hoạt văn hóa đặc sắc, khi ra về còn có thể mua làm quà ở những quầy hàng đặc sản Vĩnh Phúc ở quanh chân núi Nghĩa Lĩnh, nào bưởi Đoan Hùng, dừa Tam Đảo, chè Phú Thọ hoặc những loại hàng thủ công mĩ nghệ độc đáo khác.

LỄ HỘI TRƯỜNG YÊN

Ai là con cháu Rồng Tiên, Tháng ba mở hội Trường Yên thì về. Về thăm đền cũ Đinh - Lê, Non xanh nước biếc bốn bề như xưa. Xã Trường Yên thuộc huyện Gia Viễn, nay là huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, là nơi đặt kinh thành Hoa Lư, thời nước ta mang tên Đại Cồ Việt, cách nay gần 10 thế kỷ. Dấu tích thành cổ chiếm một diện tích gần 300 ha, trong đó non một nửa là khu nội thành với nhiều công trình kiến trúc bằng đá và đất nung như: điện Bách Thảo thiên tuế cao và rộng, điện Phong Lưu ở phía đông, điện Tử Hoa ở phía tây, điện Bồng Lai ở phía trái, điện Cực Lạc ở bên phải. 

Bên cạnh các cung điện, còn hàng loạt các di tích khác như: chùa Nhất Trụ với một cột đá hình trụ, 8 cạnh, cao 3 m, có khắc bài Kinh Lăng nghiêm, phía trên đầu cột là một bông sen nở; có Ghềnh Tháp - nơi vua Đinh duyệt thủy quân; núi Cột Cờ - nơi phấp phới lá quốc kỳ Đại Việt; hang Muối, và hang Tiền nơi lưu chứa tài sản quốc gia; động Thiên Tông - tiền đồn của kinh đô Hoa Lư... Các di tích lịch sử kể trên, trải qua mưa nắng hơn 10 thế kỷ đã bị tàn phá, đổ nát cả. Di tích còn lại hiện nay là đền vua  Đền vua Đinh được xây theo kiểu “nội công, ngoại quốc”, gồm có 3 tòa: Bái đường trên đề ba chữ thếp vàng “Chính Thống Thủy” (mở nền chính thống); Thiên Hương, nơi thờ bốn vị công thần nhà Đinh. 

Trong chính cung có tượng vua Đinh Tiên Hoàng, tượng Đinh Liễn (con cả của vua) bên phải, tượng Đinh Hạng Lang và Đinh Toàn (hai con thứ của vua) bên trái. Đền vua Lê, nơi chính cung có tượng vua Lê Đại Hành (giữa), tượng Hoàng Thái Hậu (tương truyền là Dương Vân Nga) bên phải; tượng Lê Ngọa Triều (vua thứ ba triều tiền Lê) bên trái. 

Xưa kia, hội Trường Yên, là một lễ hội lớn do các triều đại phong kiến đứng ra tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch - ngày vua Đinh tức vị. Dưới thời thuộc Pháp, theo ký ức của các cụ già ở vùng Hoa Lư, thì hội xưa nhất mở vào những năm 20 đầu thế kỷ này. Sau đó bẵng đi một thời gian dài, đến năm 1941 và 1943, hội mới được mở lại. Tiếp đến là những năm chiến tranh khốc liệt, tình hình sinh hoạt hội lễ, trong đó có hội Trường Yên, lắng xuống. Hằng năm, vào dịp tuần tiết quan trọng, nhân dân địa phương vẫn đến viếng đền, thắp hương đều đặn.


Trên tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, từ năm 1982, hội Trường Yên bắt đầu được mở lại, đặc biệt từ năm 1983 hội được tổ chức hằng năm với quy mô khá lớn, khách dự hội từ khắp nơi đến rất đông. Khách hành hương, hay khách du lịch từ Hà Nội, theo quốc lộ 1 về hướng nam đến ki-lô-mét 87 thì rẽ phải, đi chừng 8 km nữa là tới khu di tích Hoa Lư nổi tiếng. 


Đến nơi đây, khách sẽ thấy các vua xưa đã biết dựa vào thế đất hiểm, ba bề núi non bao bọc, phía trước là con sông Hoàng Long, phía sau là rừng đại ngàn, chọn làm kinh đô của nước Đại Việt thống nhất. Ngoài địa thế thiên nhiên đặc biệt, cũng còn phải kể đến yếu tố nhân hòa, tức lòng dân. Chúng dân nơi quê vua Đinh vốn là những nông dân chất phác, gắn bó với ruộng đồng và nghề than củi, giàu lòng yêu quê hương, đất nước. Đó là bức thành lũy vô địch, đảm bảo sự tồn tại an toàn cho đế đô khi có giặc ngoại xâm. Chính vì vậy mà người xưa đã tự hào so sánh đất này với Trường An (Hoa Lư thị hán Trường An). 

Trước đây, hội thường kéo dài 3 ngày, ngày chính hội là mồng 10 tháng 3. Mở đầu là lễ Rước nước. Đám rước khởi hành từ đền vua Đinh. Đi đầu là cờ, quạt, lọng, phường bát âm, rồi đến kiệu Long đình do bốn chàng trai mặc đồng phục màu đỏ, đội nón chóp khiêng, trên đó có đặt một cái ché để đựng nước Thánh. 

Đi theo kiệu là các cụ già làng mặc áo lễ cùng với một số chức dịch, và các nhà sư. Đến bến sông Hoàng Long - nơi tương truyền xưa Đinh Bộ Lĩnh bị ông chú rượt đuổi chạy đến đây và được rồng vàng rước qua - thì đám rước dừng lại, tổ chức việc lấy nước đổ vào ché để đưa về đền. Lễ tế ở hội Trường Yên được tiến hành vào ban đêm cùng một lúc ở cả hai đền. 

Trong tiếng chiêng trống trầm hùng và mùi hương trầm lan tỏa khắp không gian hội, dưới ánh đèn và ánh đuốc cháy sáng rực rỡ, giữa một quần thể kiến trúc cổ kính được bao bọc trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, không khí uy nghi và trang nghiêm của lễ tế như được nhân lên nhiều lần. Bản văn tế, với nội dung ngợi ca công đức của nhà vua, được viết bằng chữ Hán và chia làm chín đoạn (cửu khúc). Sau khi chủ tế xướng xong một đoạn, thì có hai người phường nhà trò, một nam, một nữ (nam đàn, nữ hát) diễn giải lại nội dung đoạn văn tế bằng lời hát ca trù.

Lễ tế kết thúc bằng một tràng pháo dài, sau đó khách hành hương lần lượt vào điện thờ ở hai đền, thắp hương tưởng niệm, chiêm ngưỡng các tượng thờ, các công trình điêu khắc và kiến trúc xưa. Cũng như các lễ hội khác, sau phần tế lễ, khách trẩy hội tham gia vào các trò vui, các sinh hoạt văn hóa khác như: Trò kéo chữ, thi bơi trải trên sông Hoàng Long, múa rồng, đu tiên, đấu vật. 


Nhưng độc đáo hơn cả là trò “cờ lau tập trận” dựa vào chiến tích xưa kể chuyện thời thơ ấu của Đinh Bộ Lĩnh đã cùng với các anh bạn chăn trâu bẻ lau làm cờ, chia phe đánh trận với nhau tại bãi chăn trâu. Và cậu bé Đinh Bộ Lĩnh với tài trí thông minh tuyệt vời của mình đã làm cho đám trẻ chăn trâu thán phục và đồng thanh nhất loạt tôn mình làm chủ tướng. Trò “cờ lau tập trận” này nhằm diễn lại câu chuyện quá khứ miêu tả những buổi tập dượt, rèn luyện đầu tiên làm tiền đề cho công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân sau này, thống nhất giang san về một mối, lên ngôi vua đem lại thái bình cho đất nước của người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh. 

Người ta chọn từ 80 đến 100 em thiếu niên khỏe mạnh, chia làm 2 phe, trang phục hai bên khác nhau, được trang bị côn, kiếm và cờ hiệu bằng bông lau lấy từ bên sườn núi gần đấy. Mỗi bên, khi “xung trận” có mang theo một số mô hình đầu trâu, cốt bằng nan, bồi giấy, sơn đen tượng trưng cho bầy trâu mà đám mục đồng ngày xưa chăn dắt. Riêng em thiếu niên đóng vai Đinh Bộ Lĩnh thì mặc áo vàng - hoàng bào - đội mão của vua. 

Cuộc tập trận diễn ra nơi bãi Hang Trâu phía bên phải đền Đinh Tiên Hoàng, trong tiếng chiêng, tiếng trống dóng lên từng hồi rộn rã; khi là tiếng chiêng trống xuất quân trang nghiêm đĩnh đạc, khi là tiếng chiêng trống thúc quan dồn dập làm náo nức người xem, và cuối cùng là tiếng trống thu quân kết thúc trò diễn. Trong cùng lúc đó, người đóng vai Đinh Bộ Lĩnh được đám trẻ công kênh đưa lên cao như một vị chủ soái vừa chiến thắng oanh liệt giữa tiếng reo hò vang dậy của đám đông. Cũng cần kể đến trò chơi mang tính nghệ thuật là trò “kéo chữ” ở hội Trường Yên. 

Những thành viên tham gia “kéo chữ” đều mặc đồng phục áo trắng, quần xanh, thắt lưng màu đỏ, tay cầm cây gậy có cuộn giấy màu, với chiếc gù sặc sỡ ở đầu gậy. Theo hiệu trống của người điều khiển, đoàn người di chuyển trên bãi tập tạo thành hai chữ “THÁI BÌNH” (niên hiệu thời vua Đinh) và hai chữ “THIÊN PHÚC” (niên hiệu thời vua Lê) bằng những sắc màu sặc sỡ nổi bật lên trên nền xanh của bãi cỏ. 

Dự hội Trường Yên chính là cuộc hành hương thăm lại cố đô xưa của một vương triều, nơi ghi dấu thời kỳ mở nước huy hoàng đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc, du khách có dịp quan sát tận mắt những chứng tích lịch sử hào hùng, oanh liệt của cha ông, từ đó nâng cao thêm lòng tự hào về nhân dân và đất nước. Về thăm lại đất Hoa Lư, cũng là dịp để ta chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc, những nét đẹp kỳ thú của toàn bộ khu di tích lịch sử. Ở đây sự hài hòa giữa công trình nhân tạo với hình sông, thế núi của một thiên nhiên tuyệt vời, đã gây cho ta một niềm cảm xúc lớn. 

Và, những ý kiến đánh giá của người xưa về một “Hoa Lư thị hán Trường An” - nhìn ở góc độ phòng vệ, hay một “Hạ Long trên cạn” - nhìn ở góc độ thưởng ngoạn đơn thuần là một thắng cảnh, quả là không ngoa. Việc phục hồi lại lễ hội Trường Yên, đã từng một thời là quốc lễ, ngay trên đất đế đô cũ của nhà Đinh và nhà Lê, nơi có khung cảnh thiên nhiên đẹp và hùng tráng, là một chủ trương mang ý nghĩa về nhiều mặt xã hội, nhân văn và thẩm mỹ. Nếu biết đầu tư vốn để tôn tạo, nâng cấp khu di tích lịch sử này thành một thắng cảnh độc đáo có một không hai của đất nước, sẽ thu hút hằng năm một khối lượng du khách trong và ngoài nước không nhỏ đến đây để chiêm ngưỡng, học tập, nghiên cứu và thưởng ngoạn...

HỘI ĐỀN ĐỒNG NHÂN (Hà Nội)

 Đền Đồng Nhân dựng năm 1160. Theo truyền tích, đêm mồng 6 tháng 2 năm ấy, có 2 pho tượng Hai Bà Trưng bằng đá trôi theo dòng sông Hồng, dạt vào bờ, tỏa sáng bãi Đồng Nhân (?), cho là điềm quái lạ, dân làng làm lễ rước tượng về thờ. Sau này, biết chuyện, vua Lý Anh Tông truyền lập đền thờ tại chỗ.

nước, Hai Bà Trưng là vua, ông Thi Sách chỉ là dân, là bề dưới, phải đi sau. (1) Đô, Hồ, Bạch, Hạc là bốn người đầu tiên lập ra làng Hạ Lôi. Cốt Tung là người phù tá vua Hùng Duệ Vương (vua Hùng thứ 18) chống Thục.

Từ sớm mồng 5, chủ lễ cùng các chức sắc, bô lão đã tề tựu đông đủ. Các chân kiệu, chân cờ, người vác lọng và phường nhạc tề tựu đầy đủ. Đám rước thánh giá cử hành uy nghi từ đền ra sông Hồng. Tới bờ sông, thánh giá được khiêng xuống thuyền, có chủ lễ, cụ từ và mấy chức sắc, bô lão đi theo. Tới giữa dòng nước sạch, các cụ tắm tượng. 


Xong, thuyền quay về bờ để rước tượng trở về. Suốt dọc đường, đám rước diễu qua các thôn đều đặt hương án bái vọng tới đền, khi thánh giá yên vị rồi, cuộc tế bắt đầu. Năm phong đăng hòa cốc, làng cử chọn các bà, các chị theo chuẩn mực đạo đức, không tang chế, để tế nữ quan. Lễ mục đặc sắc, tươi vui nhất của hội Đồng Nhân là múa đèn thờ. 

Tốp múa đèn gồm từ 10 đến 12 người đều là các cô gái tuổi thanh xuân, đẹp, tầm vóc như nhau, mềm mại, đã được tập luyện chu đáo. Nữ vũ công mặc áo dài đen, quần hồng, thắt lưng đỏ ngoài áo buộc nút cạnh sườn, đầu chít khăn lụa màu. 

Đèn là những chiếc đài bằng gỗ nhỏ, dán hoa giấy màu bọc quanh. Ngọn nến thắp sáng cắm giữa lòng đài. Mỗi người cầm hai đèn ở hai tay, xếp hàng đôi trước hương án. Điệu múa uyển chuyển, bước lên xuống, đan chéo lúc nhập một, lúc tách hàng đôi theo tiếng trống cơm bập bùng nhịp nhàng của “con đĩ đánh bồng”(1). Dẫn đầu! Đĩ đánh bồng là một vũ công giỏi, nam đóng giả nữ, điều khiển cuộc trình diễn nghệ thuật. 

Nhân vật này mặc áo the, quần trắng, khăn lượt, thắt lưng xanh, buộc múi bên sườn, đeo ngang lưng chiếc trống cơm bằng những dải lụa nhiều màu quàng qua cổ. Sau lưng cắm 2 hoặc 4 lá cờ đuôi nheo nhỏ, vừa đi uốn éo, vừa lấy hai tay vỗ vào 2 mặt trống, tạo nên âm thanh “bập bùng” giữ nhịp cho đoàn múa. Cùng lúc ấy, nhân dân - nhất là các bà - đứng sát bục cửa đền, bước vào hương án vái lễ. Ngày mồng 6 rã đám, có tế và lễ dâng hương kết thúc.

HỘI ĐỀN HẠ LÔI (Mê Linh)

Thần tích ghi, thân phụ Hai Bà Trưng quê ở làng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú cũ, nay là Vĩnh Phúc(1). Đền thờ ở gần sông Hồng, cách bến Chèm, huyện Từ Liêm (Hà Nội) 9 km về phía tây. Theo bia khắc năm 1899 thì đền được sửa lại vào năm ấy, còn năm xây không rõ. 

Hội đền mở ngày mồng 6 tháng giêng. Tương truyền là ngày yến hạ khao quân. Dân trong vùng kéo đến rất đông xem lễ và dự hội. Hội có lệ cúng bánh giầy, có những trò vui cổ truyền như đấu cờ, nhún đu... Nhưng dân chúng chờ đợi một lễ mục đặc sắc là tục “Rước kiệu hội đồng”. Từ giữa tháng chạp, làng đã chọn cử xong khoảng 150 cô gái xinh đẹp và 70 chàng trai tuấn tú làm chân kiệu, chân cờ, lọng tàn... và cho tập luyện hàng tuần cho thật thành thục. Đền có ba cỗ kiệu: Hai kiệu rước thánh vị Hai Bà, kiệu thứ ba rước thánh vị ông Thi Sách, chồng bà Trưng Trắc. 

Kiệu ông Thi Sách sơn đen tuyền(1), kiệu Hai Bà sơn son thếp vàng. Sáng ngày 6 tháng giêng, sau lễ tế 3 tuần rượu, trống, chiêng nổi 3 hồi 9 tiếng, sửa soạn cuộc “Rước kiệu hội đồng”. Dẫn đầu đám rước là hàng dài cờ hội. Ba kiệu xuất phát từ sân đình theo thứ tự: Kiệu ông Thi Sách, kiệu bà Trưng Trắc, kiệu bà Trưng Nhị. 

Kiệu ông Thi Sách do 32 trai làng khiêng, kèm với 32 người dự thi. Họ đều mang đồng phục nghi lễ: áo dài đen, quần trắng, thắt lưng màu ra ngoài, buộc múi bên sườn trái, đầu chít khăn lượt. Kiệu Hai Bà do các cô gái khiêng, cũng với số lượng như vậy, với đồng phục: áo dài tứ thân nâu, xống (váy) đen, hai vạt thắt lưng màu buộc ra sau, đầu chít khăn màu. Đám rước từ từ chuyển động rực rỡ màu sắc, trong tiếng trống chiêng, đàn nhạc vang động, cùng đồ bát bửu, lễ bộ uy nghi. Qua cửa tam quan, tới đường cái làng gọi là đường Trống Quân, thì kiệu ông Thi Sách dừng lại để kiệu Hai Bà lên trước.

 Tục này gọi là “Giao kiệu”, một hành động lễ nghĩa theo phong tục “nội gia huynh đệ, ngoại quốc quân thần” (trong nhà là anh em, ra ngoài việc nước là vua tôi)(2).
(1) Thi Sách chết vì đao kiếm - có máu, kiêng màu đỏ - nên kiệu phải sơn đen. (xem Lễ rước hội ngày 6 tháng giêng năm Bính Dần - 1986). (2) Ông Thi Sách là chồng, nhưng là người chiến bại (bị kẻ thù giết). Từ sân để ra cửa Tam quan được coi là “trong nhà” (trong nhà ông là chồng, kiệu ông đi trước). 


Ra đường - là việc Đền Hạ Lôi.

Đám rước tiếp tục lên đường, trang nghiêm, đúng như một cuộc hành quân lớn. Đoàn người đi theo đường Trống Quân tới đường cái, rồi tiến thẳng về đình để “Hội đồng” với 4 vị Thành hoàng Đô, Hồ, Bạch, Hạc và Thánh Cốt Tung(1). Điều hấp dẫn của đám rước còn ở chỗ trong khi vừa múa, đội quân nam nữ này còn hát khúc ca cổ, tương truyền có từ đời Hai Bà, người ta đặt ra để nam nữ đối đáp nhau trên đường hành quân, cổ vũ binh sĩ. 


Nỗi niềm tâm sự than thở cùng ai Đoái trông phương đông: nước rộng mênh mông. Đoái trông phương tây: đá trắng gồ ghề. Đoái trông phương nam: mây che đầu ngàn. Đoái trông phương bắc: núi non cao ngất! (Đồng ca nam nữ)

HỘI ĐỀN HÁT MÔN

Nơi Hai Bà trầm mình là đoạn sông Hát thuộc giang phận xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội. Hát Môn là cửa sông Đáy, một phụ lưu của sông Hồng. Đền Hát ban đầu là một am nhỏ. Khoảng đầu thế kỷ XI, cư dân ở đây mới tu bổ lại, xây to lên.

Đến thời Lê Thần Tông (1623 - 1657) mới dựng bia đá để ghi công Hai Bà. Vùng Hát Môn vốn là một hậu cứ của nghĩa quân nên được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng yếu. Hát Môn là nơi Hai Bà lập đàn thề khởi nghĩa.

Lời hịch âm vang sông nước trước ba quân cờ xí rợp trời, tràn đầy dũng khí. Đây cũng là nơi diễn ra lễ kỷ niệm ngày 24 tháng chạp năm Kỷ Hợi (năm 40 đầu Công nguyên), ngày quân ta phản công thắng lớn trong trận kịch chiến với quân Mã Viện.

Đây cũng là nơi chứng kiến cuộc xuất quân lần cuối của Hai Bà. Và cũng tại đây Hai Bà đã trọn lời thề với non nước và quốc dân. Vì vậy, hằng năm nhân dân đã cử hành tới ba lễ hội để tưởng nhớ Hai Bà. Hội mồng 6 tháng 3: Ngày giỗ Hai Bà tuẫn tiết. Đền mở rộng cửa, thắp hương, tế lễ. Trong lễ vật cúng Hai Bà, đặc biệt có bánh trôi, còn gọi là bánh “tù tì”.

Tục lệ này xuất phát từ một truyền thuyết cảm động. Truyện kể rằng trước lúc nghĩa quân lên đường, có một bà già nghèo bán bánh trôi đã dâng cả gánh hàng hôm ấy ủng hộ nghĩa quân để tỏ lòng mến mộ. Hai Bà cảm ơn, vui vẻ nhận quà tặng và cùng chia ra ăn với quân sĩ trước lúc ra trận. Khác với mọi nơi bánh trôi Hát Môn trong lễ dâng cúng này được nặn theo hình quả trứng. Trong lễ trình lên bàn thờ, bánh được nặn đúng 100 viên nhỏ(1).

 Sau lễ tế, chủ đám cùng chức sắc lấy 49 chiếc bánh (tượng trưng cho số 49 người con trai mà Lạc Long Quân đem theo xuống biển)(2) đặt vào lòng những chiếc hoa sen thả trên dòng sông Hát để sen trôi về phía biển. Mọi người đứng trên bờ trầm lặng (1) Tượng trưng cho 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ. Vì Bà Trưng được coi là dòng dõi vua Hùng. (2) Gửi bánh trôi ra biển là để dâng cúng Lạc Long Quân.

Nhìn theo dòng nước cuốn trôi những chiếc bông sen tưởng nhớ Hai Bà như một hoài niệm về dòng dõi “con Rồng, cháu Tiên. Cũng từ truyện tích này, dân vùng Hát Môn kiêng ăn bánh trôi vào Tết mồng 3 tháng 3. Chỉ đến ngày mồng 8 tháng 3 mới làm bánh trôi dâng cúng lễ hội và tổ tiên. Và chỉ từ sau khi tế xong ở đền, nhân dân mới dám ăn bánh trôi.

Để ghi nhận lòng yêu nước của bà cụ bán bánh trôi, làng cũng xây một miếu nhỏ bên gốc đa trước cửa đền Hát, và hằng năm mọi người vẫn hương khói thờ cúng bà. Hội mồng 4 tháng 9: Ngày hội xuân, lập đàn thề.

Tương truyền ngày 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi là ngày hội quân, hội tướng của nghĩa quân. Hai Bà rút quân từ Tây Hồ về tập kết cùng bảy vạn tân binh do bà Man Thiện (Thân mẫu của Hai Bà) tuyển lựa từ các nơi trong vùng.

Để khích lệ quân sĩ, Hai Bà tổ chức lễ tế cáo trời đất, truyền hịch kêu gọi anh hùng hào kiệt các nơi tham gia kháng chiến và tuyên đọc bốn lời thề:

- Thề rửa sạch mối thù đất nước.

- Thề khôi phục cơ nghiệp nhà Hùng.

- Thề trả thù cho chồng.

- Thề quyết đoạt thắng lợi. (Một xin rửa sạch quốc thù, Hai xin đem lại nghiệp xưa vua Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin trọn vẹn thuở công lênh này.)

Đoạn, Hai Bà ra lệnh mổ trâu khao quân. Ngày nay mở hội, tại đền có kéo cờ đại uy nghi, khắp đường làng đều cắm cờ ngũ hành rực rỡ, chiêng trống nổi lên vang lừng báo hội. Dân chúng tổ chức các trò vui chơi kéo dài suốt ngày.

Ngày hội 24 tháng chạp: Lễ mừng chiến thắng. Đây là hội lớn nhất, long trọng nhất trong năm. Vào ngày 24 tháng chạp năm Kỷ Hợi, Mã Viện quyết đánh một trận lớn để tiêu diệt hậu cứ của nghĩa quân. Dự đoán được âm mưu kẻ thù, Hai Bà bố trí trận địa, dồn quân các  nơi - như quân bà Cao Nhị, bà Lê Chân, bà Man Thiện - lập thành chiến tuyến vững mạnh, đồng bộ. Quả nhiên, sau trận đụng độ quyết liệt này, quân Mã Viện đại bại.

Dân làng Hát Môn háo hức chờ đợi lễ hội cuối năm này. Hàng ngàn trai gái quanh vùng, được tuyển lựa, tập trung tập dượt nhiều ngày cho thật thành thục. Vào hội, họ đóng nghĩa quân, lập thành đạo tiền binh, hậu binh nam binh, nữ binh có đồng phục riêng.

Các vai tướng uy nghi với quân phục và giáo gươm phù giá. Tám cô gái thanh tân xinh đẹp nhất được chọn để theo hầu kiệu Hai Bà. Nửa đêm 24 tháng chạp, đúng giờ Tý (24 giờ), nghe tiếng trống hiệu, lập tức trai gái xếp thành quân ngũ. Các chân cờ, chân kiệu, các hiệu trống, hiệu chiêng, tàn, lọng đều đứng vào hàng.

Đám rước cử hành trong ánh đuốc sáng rực trời đêm, giữa tiếng lễ nhạc âm vang trầm bổng, thực sự như một cuộc hành quân lớn, tràn đầy khí thế và sức mạnh cộng đồng. Đám rước đã tái hiện lại vẻ huy hoàng lễ mừng chiến thắng vinh quang của dân tộc.

Tượng Thánh được rước ra sông làm lễ “mộc dục” rồi rước về đền làm lễ dâng tế, chúc tụng.