Nơi Hai Bà trầm mình là đoạn sông Hát thuộc giang phận xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội. Hát Môn là cửa sông Đáy, một phụ lưu của sông Hồng. Đền Hát ban đầu là một am nhỏ. Khoảng đầu thế kỷ XI, cư dân ở đây mới tu bổ lại, xây to lên.
Đến thời Lê Thần Tông (1623 - 1657) mới dựng bia đá để ghi công Hai Bà. Vùng Hát Môn vốn là một hậu cứ của nghĩa quân nên được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng yếu. Hát Môn là nơi Hai Bà lập đàn thề khởi nghĩa.
Lời hịch âm vang sông nước trước ba quân cờ xí rợp trời, tràn đầy dũng khí. Đây cũng là nơi diễn ra lễ kỷ niệm ngày 24 tháng chạp năm Kỷ Hợi (năm 40 đầu Công nguyên), ngày quân ta phản công thắng lớn trong trận kịch chiến với quân Mã Viện.
Đây cũng là nơi chứng kiến cuộc xuất quân lần cuối của Hai Bà. Và cũng tại đây Hai Bà đã trọn lời thề với non nước và quốc dân. Vì vậy, hằng năm nhân dân đã cử hành tới ba lễ hội để tưởng nhớ Hai Bà. Hội mồng 6 tháng 3: Ngày giỗ Hai Bà tuẫn tiết. Đền mở rộng cửa, thắp hương, tế lễ. Trong lễ vật cúng Hai Bà, đặc biệt có bánh trôi, còn gọi là bánh “tù tì”.
Tục lệ này xuất phát từ một truyền thuyết cảm động. Truyện kể rằng trước lúc nghĩa quân lên đường, có một bà già nghèo bán bánh trôi đã dâng cả gánh hàng hôm ấy ủng hộ nghĩa quân để tỏ lòng mến mộ. Hai Bà cảm ơn, vui vẻ nhận quà tặng và cùng chia ra ăn với quân sĩ trước lúc ra trận. Khác với mọi nơi bánh trôi Hát Môn trong lễ dâng cúng này được nặn theo hình quả trứng. Trong lễ trình lên bàn thờ, bánh được nặn đúng 100 viên nhỏ(1).
Sau lễ tế, chủ đám cùng chức sắc lấy 49 chiếc bánh (tượng trưng cho số 49 người con trai mà Lạc Long Quân đem theo xuống biển)(2) đặt vào lòng những chiếc hoa sen thả trên dòng sông Hát để sen trôi về phía biển. Mọi người đứng trên bờ trầm lặng (1) Tượng trưng cho 100 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ. Vì Bà Trưng được coi là dòng dõi vua Hùng. (2) Gửi bánh trôi ra biển là để dâng cúng Lạc Long Quân.
Nhìn theo dòng nước cuốn trôi những chiếc bông sen tưởng nhớ Hai Bà như một hoài niệm về dòng dõi “con Rồng, cháu Tiên. Cũng từ truyện tích này, dân vùng Hát Môn kiêng ăn bánh trôi vào Tết mồng 3 tháng 3. Chỉ đến ngày mồng 8 tháng 3 mới làm bánh trôi dâng cúng lễ hội và tổ tiên. Và chỉ từ sau khi tế xong ở đền, nhân dân mới dám ăn bánh trôi.
Để ghi nhận lòng yêu nước của bà cụ bán bánh trôi, làng cũng xây một miếu nhỏ bên gốc đa trước cửa đền Hát, và hằng năm mọi người vẫn hương khói thờ cúng bà. Hội mồng 4 tháng 9: Ngày hội xuân, lập đàn thề.
Tương truyền ngày 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi là ngày hội quân, hội tướng của nghĩa quân. Hai Bà rút quân từ Tây Hồ về tập kết cùng bảy vạn tân binh do bà Man Thiện (Thân mẫu của Hai Bà) tuyển lựa từ các nơi trong vùng.
Để khích lệ quân sĩ, Hai Bà tổ chức lễ tế cáo trời đất, truyền hịch kêu gọi anh hùng hào kiệt các nơi tham gia kháng chiến và tuyên đọc bốn lời thề:
- Thề rửa sạch mối thù đất nước.
- Thề khôi phục cơ nghiệp nhà Hùng.
- Thề trả thù cho chồng.
- Thề quyết đoạt thắng lợi. (Một xin rửa sạch quốc thù, Hai xin đem lại nghiệp xưa vua Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin trọn vẹn thuở công lênh này.)
Đoạn, Hai Bà ra lệnh mổ trâu khao quân. Ngày nay mở hội, tại đền có kéo cờ đại uy nghi, khắp đường làng đều cắm cờ ngũ hành rực rỡ, chiêng trống nổi lên vang lừng báo hội. Dân chúng tổ chức các trò vui chơi kéo dài suốt ngày.
Ngày hội 24 tháng chạp: Lễ mừng chiến thắng. Đây là hội lớn nhất, long trọng nhất trong năm. Vào ngày 24 tháng chạp năm Kỷ Hợi, Mã Viện quyết đánh một trận lớn để tiêu diệt hậu cứ của nghĩa quân. Dự đoán được âm mưu kẻ thù, Hai Bà bố trí trận địa, dồn quân các nơi - như quân bà Cao Nhị, bà Lê Chân, bà Man Thiện - lập thành chiến tuyến vững mạnh, đồng bộ. Quả nhiên, sau trận đụng độ quyết liệt này, quân Mã Viện đại bại.
Dân làng Hát Môn háo hức chờ đợi lễ hội cuối năm này. Hàng ngàn trai gái quanh vùng, được tuyển lựa, tập trung tập dượt nhiều ngày cho thật thành thục. Vào hội, họ đóng nghĩa quân, lập thành đạo tiền binh, hậu binh nam binh, nữ binh có đồng phục riêng.
Các vai tướng uy nghi với quân phục và giáo gươm phù giá. Tám cô gái thanh tân xinh đẹp nhất được chọn để theo hầu kiệu Hai Bà. Nửa đêm 24 tháng chạp, đúng giờ Tý (24 giờ), nghe tiếng trống hiệu, lập tức trai gái xếp thành quân ngũ. Các chân cờ, chân kiệu, các hiệu trống, hiệu chiêng, tàn, lọng đều đứng vào hàng.
Đám rước cử hành trong ánh đuốc sáng rực trời đêm, giữa tiếng lễ nhạc âm vang trầm bổng, thực sự như một cuộc hành quân lớn, tràn đầy khí thế và sức mạnh cộng đồng. Đám rước đã tái hiện lại vẻ huy hoàng lễ mừng chiến thắng vinh quang của dân tộc.
Tượng Thánh được rước ra sông làm lễ “mộc dục” rồi rước về đền làm lễ dâng tế, chúc tụng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét